Draft.This report is a draft and subject to change.
  1. Home

Tóm tắt báo cáo

Lý do Việt Nam cần protein thay thế nằm ở phía cung: Việt Nam sản xuất đạm động vật quy mô lớn nhưng dựa vào đạm thực vật nhập khẩu. Việt Nam dồi dào tinh bột, có kỹ năng lên men và nhiều người mua thức ăn chăn nuôi, nhưng thiếu nguyên liệu đạm, cơ sở thử nghiệm, quy định cho thực phẩm mới và vốn mạo hiểm. Cơ hội gần nhất là đạm thực vật tạo cấu trúc sản xuất trong nước và phụ gia vi sinh chức năng cho thức ăn thủy sản; đòn bẩy chính sách quan trọng nhất là một điều khoản về thực phẩm mới trong Luật An toàn thực phẩm sửa đổi (dự kiến trình Quốc hội cuối năm 2026), hai điều chỉnh danh mục thức ăn chăn nuôi và năng lực lên men thử nghiệm dùng chung. Nhìn tới năm 2050, nhu cầu khô đậu tương tăng từ 7,2 lên khoảng 10,4 triệu tấn nếu giữ xu hướng hiện nay; mức giảm nhờ nâng hiệu quả sử dụng thức ăn lớn gấp khoảng hai lần mức giảm nhờ protein thay thế; và chín biện pháp không hối tiếc có lợi trong cả bốn kịch bản năm 2050.

13 min readWhat the tags mean

This page is in Vietnamese. Read the English summary

On this page
  1. Mười phát hiện chính
  2. Có thể làm gì
  3. Nhìn tới năm 2050 (bổ sung trong ấn bản 1.1)
  4. Gợi ý cho từng nhóm độc giả
  5. Điều gì sẽ làm thay đổi nhận định này

Bản tóm tắt tiếng Việt của báo cáo "Protein thay thế tại Việt Nam: khảo sát phía cung 2026" do AltProtein Vietnam thực hiện. Báo cáo đầy đủ bằng tiếng Anh; thuật ngữ song ngữ xem tại S. Glossary.

Với Việt Nam, câu chuyện protein thay thế trước hết là câu chuyện nguồn cung. Việt Nam là một trong những nước sản xuất thịt lợn, gia cầm, trứng, cá và tôm nuôi lớn nhất châu Á, năm 2025 xuất khẩu 11,3 tỷ USD thủy sản. Thế nhưng gần như toàn bộ đạm thực vật dùng để nuôi đàn vật nuôi đó phải nhập khẩu: khoảng 99% đạm đậu tương trong thức ăn chăn nuôi và khoảng ba phần tư nguồn cung ngô, với tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi khoảng 10 tỷ USD năm 2025. Tháng 8/2026, giá bột cá lên 2.500 USD/tấn, mức cao nhất trong thập kỷ này. Vì vậy, lập luận mạnh nhất cho protein thay thế ở Việt Nam là an ninh nguồn đạm cho thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, giá trị công nghiệp và thương mại, chứ không phải xu hướng tiêu dùng. Lợi ích về môi trường và phúc lợi động vật là động lực có thật với một số bên, nhưng phạm vi hẹp hơn (Why Vietnam).

Báo cáo tập trung vào phía cung: Việt Nam có thể sản xuất gì, từ nguyên liệu nào, bằng thiết bị nào, theo quy định nào, với chi phí bao nhiêu và ai có thể làm. Phạm vi gồm cả thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Thịt nuôi cấy được xem xét đầy đủ. Côn trùng chỉ được dùng làm mốc so sánh, không phải hướng đi mà báo cáo khuyến nghị.


Mười phát hiện chính

  1. Thừa tinh bột, thiếu đạm. Việt Nam trồng khoảng 10 triệu tấn củ sắn, chế biến thêm khoảng 8 triệu tấn sắn nhập khẩu, thu hoạch 43,5 triệu tấn lúa và đang dư đường. Các phụ phẩm giàu đạm như bã bia, bã đậu nành rất nhỏ so với 7,2 triệu tấn khô đậu tương đưa vào thức ăn chăn nuôi mỗi năm. Phụ phẩm lớn nhất là bã sắn, khoảng 6 triệu tấn tươi mỗi năm, tập trung ở Tây Ninh, nhưng hàm lượng đạm rất thấp. Giá củ sắn tăng khoảng 75% trong một năm tính đến tháng 4/2026 do thiếu nguồn cung, và việc bắt buộc dùng xăng E10 từ tháng 6/2026 tạo thêm một bên mua mới (Asset map).

  2. Có kỹ năng lên men nhưng đang khép kín. Vedan, Ajinomoto và Daesang vận hành hệ thống lên men hiếu khí quy mô lớn để sản xuất axit amin (theo ước tính của chúng tôi, 11.000 đến 34.000 m³ bồn lên men). Chúng tôi chưa thấy doanh nghiệp nào công bố nhận gia công. Chúng tôi không tìm thấy cơ sở lên men thử nghiệm mở, nhà máy tách chiết protein hay dây chuyền ép đùn đạm thực vật tạo cấu trúc (TVP) nào trong nước. Ngược lại, 269 nhà máy thức ăn chăn nuôi (mới dùng khoảng một nửa công suất) và các nhà gia công thực phẩm đông lạnh là đối tác sẵn có (Industrial base).

  3. Nền kinh tế đạm không từ động vật hiện nay chủ yếu là sản phẩm truyền thống. Sữa đậu nành, đậu phụ và đồ chay công nghiệp chiếm ưu thế. Trong khảo sát 186 sản phẩm tại 11 cửa hàng, hàm lượng đạm trung vị của 43 sản phẩm thực phẩm có ghi trên nhãn chỉ 4,7 g/100 g, và mọi sản phẩm sản xuất trong nước có từ 10 g đạm/100 g trở lên đều dùng đạm đậu nành tạo cấu trúc, đạm đậu nành hoặc gluten nhập khẩu, phần lớn từ Trung Quốc. Thịt thực vật kiểu mới gần như vắng mặt. Thị trường protein thay thế phát triển nhất lại là thức ăn chăn nuôi: một nhà máy bột côn trùng đã bán cho doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, và đạm vi sinh từ Trung Quốc đã được nhập về (Alt protein today).

  4. Quy định thực phẩm: cửa mở nhưng không có lối đi rõ ràng. Thực phẩm đạm mới được bán theo cơ chế tự công bố, nhưng luật hiện hành cũng coi "thực phẩm sản xuất bằng công nghệ mới chưa được phép lưu hành" là đối tượng bị thu hồi, trong khi không có thủ tục nào để xin phép. Protein từ lên men chính xác nhiều khả năng bị coi là sản phẩm từ sinh vật biến đổi gen theo nghị định có hiệu lực tháng 1/2026. Thức ăn chăn nuôi thông thoáng hơn: côn trùng, bèo tấm, tảo và nấm men đã có trong danh mục nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, còn danh mục thức ăn thủy sản thì chưa rõ. Luật An toàn thực phẩm sửa đổi dự kiến được trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10 đến tháng 11/2026 (chưa được xác nhận trong chương trình kỳ họp), một cơ hội hiếm có (Rules).

  5. Nghiên cứu nằm cạnh lĩnh vực protein thay thế, chưa đi vào bên trong. Việt Nam mạnh về thử nghiệm thức ăn thủy sản, biểu hiện protein trong nấm men, nuôi cấy tế bào gốc, di truyền nấm mốc koji và vi tảo, nhưng gần như chưa có nghiên cứu về tạo cấu trúc, mycoprotein, lên men chính xác hay dòng tế bào dùng cho thực phẩm. Cường độ nghiên cứu về thực phẩm mới chỉ bằng khoảng một phần tư đến một phần ba Thái Lan. Điểm nghẽn lớn nhất là hạ tầng dùng chung (Knowledge and talent).

  6. Vốn còn mỏng. Chỉ có một thương vụ protein thay thế vượt 5 triệu USD: nhà máy bột côn trùng của Entobel, 32,5 triệu USD, do quỹ đầu tư tư nhân trong nước, một khoản nhỏ từ tổ chức tài chính phát triển và cam kết bao tiêu của một doanh nghiệp thủy sản. Vốn mạo hiểm vào nông nghiệp công nghệ ở Việt Nam năm 2025 chỉ khoảng 1 triệu USD. Các quỹ đầu tư mạo hiểm nhà nước mới thành lập nhưng quy mô mỗi khoản đầu tư còn nhỏ (Capital).

  7. Rẻ nhưng không độc nhất, và chưa sẵn sàng về quy định. Một nghiên cứu khu vực chấm Việt Nam 100 điểm về chi phí lao động nhưng 0 điểm về mức độ sẵn sàng pháp lý. Indonesia rẻ tương đương; Thái Lan rẻ gần bằng nhưng có quy định và nguồn đường tốt hơn. Lao động và điện chỉ chiếm phần nhỏ trong chi phí lên men, nên chi phí đầu vào rẻ chưa đủ để thu hút nhà máy. Việt Nam xuất khẩu hơn 2 triệu tấn tinh bột sắn trong năm 2023 và năm 2025, chủ yếu sang Trung Quốc, trong khi năm 2024 Trung Quốc chỉ nhập 0,16 triệu USD siro glucose từ Việt Nam (Region).

  8. Vốn đầu tư, chứ không phải chi phí vận hành, quyết định bài toán lên men. Theo ước tính sơ bộ, đạm nấm làm thức ăn chăn nuôi sản xuất tại Việt Nam có giá thành 4.050 đến 14.700 USD mỗi tấn đạm, so với 2.625 đến 3.846 USD của đạm bột cá và khoảng 880 USD của đạm khô đậu tương. Sản phẩm này khó cạnh tranh nếu chỉ thay thế bột cá theo khối lượng, có triển vọng khi làm phụ gia chức năng cho thức ăn thủy sản ở tỷ lệ 1 đến 5% khẩu phần, và không thể cạnh tranh với đậu tương. Với đạm thực vật tạo cấu trúc, giá thành sản xuất chỉ bằng một phần nhỏ giá bán lẻ của đạm thịt; điều quyết định thị trường là nhu cầu, chất lượng và phân phối (Economics).

  9. Hai nhóm công nghệ phù hợp ngay. Đạm thực vật tạo cấu trúc, và phụ gia vi sinh chức năng cho thức ăn tôm cá. Đạm từ đậu xanh và gạo, thực phẩm lên men từ nấm và bèo tấm làm thức ăn chăn nuôi đáng được thử nghiệm. Lên men chính xác chỉ phù hợp với sản phẩm giá trị cao, liều dùng thấp, sản xuất thuê. Thịt và hải sản nuôi cấy vẫn là đề tài nghiên cứu trong thập kỷ này (Technology fit).

  10. Các mốc quan trọng dồn vào giai đoạn đầu. Hầu hết thay đổi pháp lý liên quan rơi vào 2025 đến 2027, nên hướng đi của cả thập kỷ sẽ rõ trong khoảng 18 tháng tới (Outlook).


Có thể làm gì

Mười hướng đi, ba hướng vững nhất. Báo cáo mô tả mười hướng đi cụ thể, mỗi hướng nêu điều kiện cần đúng, phép thử để dừng lại, khách hàng đầu tiên và mốc thời gian, rồi chấm điểm theo bộ trọng số mà từng nhóm độc giả có thể tự điều chỉnh (Plays). Ba hướng đứng đầu với hầu hết các bộ trọng số:

  • T1. Sản xuất đạm thực vật tạo cấu trúc trong nước cho các thương hiệu đồ chay và nhà sản xuất thực phẩm đông lạnh, thay thế hàng nhập từ Trung Quốc (0 đến 2 năm).
  • T2. Phụ gia vi sinh chức năng cho thức ăn tôm và cá tra, bán dựa trên tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn (1 đến 3 năm).
  • T4. Cụm chuyển tinh bột sắn thành đường lên men đặt cạnh nhà máy tinh bột, giữ lại một khâu tạo giá trị ở Việt Nam (1 đến 3 năm; cần ít nhất một doanh nghiệp lên men cam kết).

Năng lực lên men thử nghiệm và gia công dùng chung (T5) là điều kiện mà phần lớn các hướng đi dựa trên lên men cần có trước tiên.

Những bước chính sách ít tốn kém. Bốn phương án chính sách được xếp hạng cao nhất đều rẻ và không cần lập cơ quan mới (Policy options):

  1. Thêm một điều khoản ngắn vào Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, giao Chính phủ quy định việc quản lý "thực phẩm mới và nguyên liệu thực phẩm mới" (dự kiến tại kỳ họp tháng 10 đến tháng 11/2026).
  2. Văn bản hướng dẫn liên bộ Nông nghiệp và Môi trường với Y tế về tình trạng biến đổi gen của protein tinh khiết từ lên men chính xác.
  3. Bổ sung mục nguyên liệu vào danh mục thức ăn thủy sản.
  4. Bổ sung các mục chung cho sinh khối vi sinh vào danh mục thức ăn chăn nuôi.

Các khoản chi lớn hơn là dây chuyền lên men thử nghiệm dùng chung, chương trình thử nghiệm thức ăn chăn nuôi công và phòng thí nghiệm đánh giá chất lượng đạm.


Nhìn tới năm 2050 (bổ sung trong ấn bản 1.1)

Phần V (Drivers to 2050 đến Robust moves) mở rộng phân tích tới năm 2050. Phần này tách bạch điều gần như chắc chắn với điều còn bỏ ngỏ, ghi rõ loại của từng nhận định về tương lai (xu hướng, dự phóng từ mô hình đã công bố hoặc mục tiêu chính thức, ước tính của chúng tôi, tín hiệu sớm, sự kiện bất ngờ hay tầm nhìn), và không trình bày bất kỳ kịch bản nào như một dự báo.

  1. Mọi sức ép đều dẫn tới nhiều đạm nhập khẩu hơn và nhiều thức ăn hỗn hợp công nghiệp hơn. Dân số trong độ tuổi lao động đạt đỉnh vào khoảng 2035 đến 2040, chăn nuôi lợn nông hộ tiếp tục thu hẹp, dịch tả lợn châu Phi vẫn lưu hành thường xuyên, ngành nông nghiệp phải giảm phát thải xuống 56 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2050, còn Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục sụt lún khoảng 1,1 cm mỗi năm. Chưa có chỉ tiêu chính thức nào về thịt, thức ăn chăn nuôi hay đạm cho giai đoạn sau năm 2030 (Drivers to 2050).
  2. Nếu giữ xu hướng hiện nay, nhu cầu khô đậu tương tăng từ 7,2 triệu tấn (2025) lên khoảng 10,4 triệu tấn (2050), gần như toàn bộ phải nhập khẩu; trong bốn kịch bản, con số năm 2050 dao động từ 7,0 đến 11,7 triệu tấn (theo mô hình của chúng tôi). Hiện nay, Việt Nam đã gián tiếp sử dụng khoảng 4 triệu ha đất canh tác ở nước ngoài để có thức ăn chăn nuôi (Protein balance 2050).
  3. Nâng hiệu quả sử dụng thức ăn mang lại tác dụng gấp đôi protein thay thế. Cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn và giảm tỷ lệ khô đậu tương trong khẩu phần giúp giảm 3,4 triệu tấn nhu cầu năm 2050; phát triển protein thay thế ở quy mô lớn giảm được 1,6 triệu tấn. Hai hướng này cộng dồn cho nhau chứ không loại trừ nhau. Với thức ăn thủy sản, thiếu omega-3 còn gay gắt hơn thiếu đạm.
  4. Công nghệ tiên phong đã vận hành được, nhưng chi phí giảm chậm. Các ngành lên men trước đây chỉ giảm chi phí 13 đến 20% mỗi lần sản lượng tăng gấp đôi, chậm hơn nhiều so với điện mặt trời. Trong trường hợp thuận lợi nhất, đạm sản xuất từ điện tái tạo tại Việt Nam chỉ ngang giá đạm bột cá vào khoảng năm 2050, và không năm nào đến 2050 đạt mức giá của đạm khô đậu tương; cơ hội cho hướng đi này sớm nhất cũng chỉ mở ra vào khoảng 2040 đến 2045, và chỉ khi năm điều kiện cùng hội đủ (Frontier technology).
  5. Hai câu hỏi bên ngoài quyết định phần lớn cục diện: nguồn đạm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có rơi vào tình trạng khan hiếm, bấp bênh kéo dài hay không, và thị trường lên men châu Á sẽ tiếp tục mở hay bị Trung Quốc chi phối về giá. Kết hợp hai câu hỏi này cho ra bốn bức tranh năm 2050: Công xưởng của khu vực, Nhà nhập khẩu an phận, Xây dựng an ninh nguồn đạm và Nhà nhập khẩu bị chèn ép (Scenarios 2050).
  6. Chín biện pháp "không hối tiếc" (có lợi dù tương lai diễn ra theo hướng nào) áp dụng được trong cả bốn kịch bản, phần lớn do khu vực công thực hiện, ít tốn kém và có thể bắt đầu ngay trong giai đoạn 2026 đến 2028: bảng cân đối đạm và thức ăn chăn nuôi quốc gia; chương trình nâng hiệu quả sử dụng thức ăn; quy trình cấp phép thực phẩm mới và nguyên liệu thức ăn mới có thời hạn rõ ràng; năng lực sản xuất thử (pilot) và thử nghiệm thức ăn dùng chung; phòng thí nghiệm chất lượng đạm và chuỗi số liệu giá; quy định về nguồn carbon từ phụ phẩm; kế hoạch bảo đảm nguồn omega-3; chọn địa điểm nhà máy thích ứng với biến đổi khí hậu; và phát triển nhân lực kỹ thuật quy trình (kỹ sư và vận hành) (Robust moves).

Gợi ý cho từng nhóm độc giả

  • Nhà đầu tư: ưu tiên doanh thu B2B trong thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, có người mua chiến lược cụ thể, theo mô hình Entobel; thẩm định kỹ nhu cầu vốn đầu tư thay vì kỳ vọng tăng trưởng tiêu dùng (Investors).
  • Nhà hoạch định chính sách: tận dụng cơ hội sửa Luật An toàn thực phẩm và hai điều chỉnh danh mục thức ăn chăn nuôi trong 2026 và 2027; ưu tiên chia sẻ vốn đầu tư hơn là thêm ưu đãi miễn thuế (Policy makers).
  • Doanh nghiệp khởi nghiệp: bắt đầu ở nơi con đường pháp lý đã rõ (đạm tạo cấu trúc, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đã có trong danh mục, koji) và bán giá trị chức năng hoặc khả năng thay thế hàng nhập (Startups).
  • Doanh nghiệp thực phẩm và thức ăn chăn nuôi: quý vị chính là khách hàng đầu tiên của đạm tạo cấu trúc, phụ gia thức ăn chức năng và đạm cho đồ uống thực vật; thử nghiệm chung là cách bắt đầu rẻ nhất (Manufacturers).
  • Viện, trường: dữ liệu chất lượng đạm, an toàn của bèo tấm, đạm vi sinh từ nước thải chế biến đậu nành cho tôm, chủng chịu nhiệt trên nguyên liệu sắn và các chủng mốc tương đã được đánh giá an toàn là những khoảng trống hữu ích nhất (Research).
  • Tổ chức quốc tế: hỗ trợ soạn thảo quy định thực phẩm mới, thử nghiệm thức ăn chăn nuôi công, dây chuyền thử nghiệm và các cấu trúc tài chính phát triển cho những nhà máy đầu tiên (International).

Điều gì sẽ làm thay đổi nhận định này

  • Luật An toàn thực phẩm được thông qua mà không có lộ trình cho thực phẩm mới, hoặc có nhưng không quy định thời hạn giải quyết.
  • Giá bột cá giảm về dưới khoảng 1.800 USD/tấn trong thời gian dài.
  • Đạm vi sinh hoặc đạm đậu nành tạo cấu trúc từ Trung Quốc về đến Việt Nam với giá thấp hơn chi phí sản xuất quy mô thí điểm (pilot) trong nước.
  • Một doanh nghiệp lên men lớn nhận gia công, giúp cải thiện đáng kể bài toán kinh tế của T2, T3 và T5.

Hai mươi câu hỏi còn bỏ ngỏ quan trọng nhất, kèm nơi có thể trả lời, được liệt kê tại Unknowns.


Về báo cáo. AltProtein Vietnam, ấn bản 1.1, tháng 9/2026. Ấn bản 1.0 dựa trên hai đợt nghiên cứu tài liệu, khảo sát bán lẻ tại Nha Trang và TP. Hồ Chí Minh, và đối chiếu mọi con số chính với nguồn. Ấn bản 1.1 bổ sung Phần V, được xây dựng từ ba đợt nghiên cứu tiếp theo về các khả năng tương lai đến năm 2050, một mô hình cân đối đạm và thức ăn chăn nuôi có thể tái lập, cùng 469 nguồn mới (tổng cộng 1.275 bản ghi nguồn). Mỗi nhận định được gắn nhãn bằng chứng (trực tiếp tại Việt Nam, tương đồng với nước hoặc loài tương tự, hoặc chung) và mức độ tin cậy; riêng Phần V có thêm nhãn loại nhận định về tương lai (How to read, A. Method, U. Futures method). Các bản nháp trước có sai sót; danh sách đính chính tại B. Corrections. Đây là nghiên cứu khảo sát, không phải tư vấn đầu tư, pháp lý hay kỹ thuật.